Đồng chí Hà Văn Lâu

(VOH) - Lịch sử đặt lên vai Đại tá - Nhà ngoại giao Hà Văn Lâu những trọng trách của đất nước. Dù là quân nhân trong quân đội hay đại sứ ngành ngoại giao, ông đều tạo được dấu ấn về một người chỉ huy lịch thiệp.

Lịch sử đặt lên vai Đại tá - Nhà ngoại giao Hà Văn Lâu những trọng trách của đất nước. Dù là quân nhân trong quân đội hay đại sứ ngành ngoại giao, ông đều tạo được dấu ấn về một người chỉ huy lịch thiệp. (Theo Những chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - NXB Văn hóa Văn nghệ)

Hà Văn Lâu sinh ngày 9 tháng 12 năm 1918 ở làng Sình, ngã ba sông Hương, cách Huế không xa. Cha ông là thầy giáo tiểu học trường làng Hà Văn Phu, còn gọi là thầy Cửu Phu.

Khi lên 7 thì cha ông qua đời, được bà ngoại và mẹ nuôi nấng ăn học. Ông tốt nghiệp bậc Thành chung, nhưng do không có điều kiện nên phải thi công chức vào ngạch thư ký Tòa sứ.

Với ý định du học Pháp, ông xin vào học một trường quân sự của Pháp ở Đông Dương, sau đó tốt nghiệp hạ sĩ quan trù bị (1942). Tuy nhiên, chính quyền Pháp sau đó giải tán các trường đào tạo huấn luyện và đình chỉ tăng quân, ông buộc lại phải trở về nghề cũ.

Vì hoàn canh gia đình, ông thi vào ngành thương chánh. Năm 1943, ông được bổ nhiệm trông coi một đồng muối ở phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1944, ông gia nhập mặt trận Việt Minh.

Năm 1945, ông là giảng viên và huấn luyện quân sự tại trường Thanh niên Tiền tuyến. Cách mạng tháng Tám thành công, do có kinh nghiệm huấn luyện tự vệ thời tiền Khởi nghĩa, ông được cử làm Ủy viên quân sự Nha Trang, Hiệu trưởng Trường huấn luyện quân sự Đồng Đế.

Sau khi quân Pháp quay lại xâm lược, ông làm Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Nha Trang.

Sau Hiệp định Sơ bộ (6/3/1945), ông được cử làm Trưởng phái đoàn sĩ quan liên lạc của Việt Nam ở Khánh Hòa-Nha Trang.

Năm 1951, Hà Văn Lâu được bổ nhiệm về công tác ở Cục tác chiến giữ chức Cục phó (Cục trưởng Đỗ Đức Kiên).

Với cương vị này, ông tham gia chỉ huy chiến dịch đông-xuân 1951-1952, chiến dịch thu-đông 1952 và chiến cục đông xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Cấp bậc của ông trong thời gian này là đại tá.

Năm 1954 ông tham dự Hội nghị Giơ ne vơ với vai trò chuyên viên quân sự của phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa,

Năm 1962 ông tham dự Hôi nghị quốc tế về Lào, 1968 - dự hội nghị quốc tế về Campuchia, các hội nghị về phong trào không liên kết...

Sau đó ông làm Đại sứ Việt Nam tại Cuba năm 1975 kiêm nhiệm chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Hamaica và Cộng hòa hợp tác Guyana, tại Liên Hợp Quốc năm 1978 - 1982.

Năm 1982 ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Trưởng ban Việt kiều Trung ương, năm 1984 giữ chức Đại sứ Việt Nam tại Pháp. kiêm đại sứ Việt nam tại Bỉ, Hà Lan và Luxemburg.

Ông mất ngày 6 tháng 12 năm 2016 tại TPHCM.

VOH Online

Bình luận

Đọc Báo